LUẬT THI ĐẤU BÓNG CHUYỀN HƠI VÀ PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC THI ĐẤU BÓNG CHUYỀN

- Là thế đứng của đấu thủ trên sân thuận lợi hợp lý nhất để quan sát, phán đoán tốt, di chuyển kịp thời theo mọi hướng tới vị trí cần thiết trên sân để đón đánh bóng.

Bạn đang xem: Phương pháp tổ chức thi đấu bóng chuyền

Tư thế chuẩn bị, hai chân rộng bằng vai. Đứng chân trước chân sau, chân sau hơi kiễng, hai đầu gối hướng vào trong khuỵu vừa phải và hợp lý. Thân người hơi gập, hai tay co tự nhiên, khuỷu tay ở ngang hông gần cạnh sườn. Cẳng tay gần như song song với đùi. Bàn tay, ngón tay duỗi tự nhiên. Mắt theo dõi bóng và động tác của những đấu thủ có bóng để xác định hướng và điểm rơi của bóng, từ đó xác định nhiệm trong những tình huống cụ thể.

Hai chân luôn ở trạng thái động, trọng lượng thân người chuyển từ chân này sang chân kia giúp cho đấu thủ sẵn sàng di động về mọi phía kịp thời, nhanh nhẹn và thuận lợi. Đấu thủ phải luôn xoay người đúng hướng bóng, tập trung cao, tư thế thân người ở trạng thái tự nhiên, thoải mái, chuyển động nhịp nhàng.

- Căn cứ vào mức độ hạ thấp trọng tâm cơ thể (chủ yếu mức độ khuỵu gối) để chuẩn bị tham gia các động tác đánh bóng khác nhau. Trên cơ sở này tư thế đánh bóng có thể phân ra 3 loại chính :

+ Tư thế chuẩn bị cao: Được áp dụng nhiều khi người tập đứng sát lưới để chuẩn bị cho chuyền bóng hay chắn bóng.

-Hai gối khuỵu ít hơn,thân người gần như thẳng đứng,đùi và cẳng chân tạo thành góc 120-145 độ

+ Tư thế chuẩn bị trung bình:thường được sử dụng khi đỡ phát bóng và là tư thế cơ bản được sử dụng nhiều nhất trong tập luyện và thi đấu.

- Hai chân mở rộng bằng vai,chân trước chân sau cách nhau nửa bước đùi và cẳng sau tạo góc 90- 120 độ,chân trước đứng trên cả bàn chân,chân sau hơi kiễng gót,hai chân hơi khuỵu gối,trọng tâm cơ thể dồn đều 2 chân,bụng hơi hóp lại,thân trên hơi ngả về trước,mắt nhìn trước, hai tay co khuỷu tự nhiên

+ Tư thế chuẩn bị thấp:được dung khi phòng thủ ở hàng dưới,chủ yếu là chuẩn bị đỡ những đường bóng o tầm thấp

- hai chân đứng rộng hơn vai,hai gối khuỵu thấp đùi và cẳng chân tạo góc Chương II. Kỹ thuật Chuyền bóng và đệm bóng

I. Kỹ thuật Chuyền bóng cao tay cơ bản bằng hai tay.

1. Đặc điểm và tác dụng.

Chuyền bóng cao tay là kỹ thuật chủ yếu dùng những ngón tay chuyền bóng đi.

- Khi chuyền bóng đi cùng một lúc có nhiều điểm tiếp xúc vào bóng, nhưng điểm tiếp xúc ấy chủ yếu ở các ngón tay.

- Vị trí bàn tay tiếp xúc bóng khi chuyền luôn luôn ở trước mặt với độ cao ngang trên trán hoặc trên đỉnh đầu.

- Cùng với lúc thực hiện động tác, mắt có thể quan sát được tay, bóng, vị trí muốn chuyền tới.

- Chuyền bóng cao tay sử dụng được các bộ phận linh hoạt, khéo léo nhất của cơ thể mà cụ thể là cá ngón tay, cổ tay góp phần tạo ra độ chuẩn xác cao, linh hoạt và biến hoá các đường bóng. Đây là kỹ thuật nối tiếp giữa phòng thủ và tấn công. Đặc biệt đối với đập bóng, chuyền bóng là kỹ thuật chính để tổ chức ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tấn công, ngoài ra còn có thể bỏ nhỏ vào chỗ trống trên sân đối phương.

Với đặc điểm chuyền bóng, cùng một lúc có nhiều điểm tiếp xúc vào bóng do đó dễ phạm lỗi kỹ thuật dính bóng, hai tiếng. Chuyền bóng cao tay bao gồm một số kỹ thuật chủ yếu : Chuyền lật sau đầu, nhảy chuyền bằng hai tay, một tay, ngã chuyền bóng, chuyền bước hai. Ngoài ra nó còn có một số dạng khác phụ thuộc vào tư thế người chuyền.

2. Phân tích kỹ thuật chuyền bóng cao tay bằng hai tay cơ bản.

- Người chuyền bóng đứng ở tư thế chuẩn bị chân trước, chân sau, trọng lượng cơ thể dồn vào chân trước.

Nếu đồng đội chuyền bóng đến từ phía trái thì chân trái bước lên trước và ngược lại. Người chuyền bóng khi di chuyển đến vị trí đón bóng bằng bước thường, bước chạy... ở đây điều quan trọng là động tác xuất phát phải nhanh, tăng nhanh tốc độ ở một phần ba quãng đường đầu tiên, rồi sau đó từ từ dừng lại để chọn vị trí đón bóng. Bước cuối cùng là bước gìm, điều đó giúp cho việc chọn vị trí đón bóng để chuyền bóng tới địa chỉ cần thiết.

Tư thế chuẩn bị: hai chân hơi khuỵu ở khớp gối (không nhỏ hơn 900) hai tay co tự nhiên ở khớp khuỷu và đưa lên cao, hai bàn tay ở phía trước mặt, các ngón cái ở ngang tầm lông mày. Các ngón trỏ tạo thành hình tam giác và qua đó người tập có thể quan sát bóng bay tới gần, mỗi bàn tay khum xoè tạo thành hình ô van, hai bàn tay hợp thành hình túi để chuẩn bị chuyền bóng (Hình 1).

*

(Hình 1)

Khi bóng tới gần thì 2 chân bắt đầu động tác phối hợp chuyền bóng bằng cách duỗi mạnh khớp gối, đẩy người lên hơi chếch ra phía trước. Sau đó là động tác của hai tay, vươn duỗi mạnh khớp khuỷu để tạo hướng tay cơ bản của bóng khi chuyền đi. Hoạt động vươn duỗi tay đẩy bóng được thực hiện nhờ chuyển động thẳng của trục khớp cổ tay so với trục khớp vai. Khi thực hiện động tác

đẩy bóng đi, hai chân đạp duỗi mạnh và nhanh chóng kết hợp với hai tay vươn duỗi khớp khuỷu nhưng chậm hơn (Hình2).

*

(Hình 2)

Để điều chỉnh hướng bóng, hai lòng bàn tay phải vuông góc với hướng bóng chuyền đi, khi hai tay chạm đẩy bóng thì bàn tay hơi ưỡn ra sau. Chức năng thực hiện đẩy bóng của các ngón tay cũng khác nhau. Các ngón cái hướng ra sau chịu lực hoãn xung chính và cùng với các ngón tay khác bật đẩy bóng theo hướng chuyền. Các ngón trỏ và ngón giữa là bộ phận bật đẩy chính của bàn tay còn các ngón đeo nhẫn và ngón út chỉ giữ phía bên trong của bóng và điều chỉnh hướng bóng đi.

Khi bóng rời tay, cả chân và tay tiếp tục vươn duỗi hết rồi dừng lại, động tác này gọi là chuyển động tay vươn theo bóng. Sau đó nhanh chóng trở về tư thế chuẩn bị để sau đó tiếp tục thực hiện những động tác tiếp theo.

3. Phương pháp tổ chức tập luyện.

- Chuyền bóng là một kỹ thuật khó, do đó trước khi tập luyện chuyền bóng, cần nắm các yếu lĩnh cơ bảnvà phải tập luyện theo một trình tự nhất định.

3.1. Tập hình tay tiếp xúc bóng.

- Bài tập 1: Tự tung bóng lên cao, cho bóng rơi vào tay tư thế chuyền bóng trên đầu.

- Bài tập 2: Hai người đứng đối diện cách nhau 1 m, một người làm tư thế chuyền bóng, người kia tung nhẹ bóng vào tay người chuyền bóng để bắt giữ bóng.

- Bài tập 3: Đứng ở tư thế chuyền bóng, chuyền nhẹ nhiều lần vào bóng treo trên dây cố định tạo cảm giác tiếp xúc bóng.

3.2. Tập động tác tay.

- Bài tập 1: Hai người đứng đối diện cách nhau 4 m, một người cầm bóng ngang ngực ( ở tư thế tay chuyền bóng) đẩy bóng về phía người cùng tập, người cùng tập bắt bóng bắt bóng và làm động tác như người thứ nhất đẩy bóng trở lại.

- Bài tập 2: Một người ngồi trên đất, một người cầm bóng đứng cách xa 3- 4 m. Người tung nhẹ bóng cho người ngồi chuyền bóng trở lại sau đóa đổi vị trí cho nhau.

3.3. Tập động tác chân.

- Bài tập 1: Đứng ở tư thế chuyền bóng, hai tay đẩy bóng nhồi 1kg lên đầu.

- Bài tập 2: Mỗi người một quả bóng tự tung lên cao, khi bóng rơi xuống đúng tầm rồi chuyền bóng đi

- Bài tập 3: Hai người đứng cách nhau 3m. Người thứ nhất ngồi xổm, người thứ hai tung bóng cho người số 1. Khi bóng đến đúng tầm thì người ngồi xổm nhanh đứng dậy chuyền bóng đi.

3.4. Phối hợp các động tác.

- Bài tập 1: Mỗi người tự mô phỏng kỹ thuật chuyền bóng có sự kết hợp lực nhịp nhàng giữa tay, thân và chân.

- Bài tập 2: Từng người tự mình tung bóng lên cao, sau đó kết hợp lực chuyền bóng liên tục lên cao.

- Bài tập 3: Hai người thực hiện chuyền bóng liên tục cho nhau, đứng cách nhau 3 - 4 m

II. Kỹ thuật Đệm bóng (Chuyền bóng thấp tay) bằng hai tay cơ bản

1. Đặc điểm và tác dụng.

Đệm bóng là một kỹ thuật sử dụng cẳng tay, bàn tay đệm đẩy bóng đi, diện tiếp xúc giữa tay và bóng rộng, nhưng điểm tiếp xúc ít hơn chuyền bóng cao tay, do đó đã hạn chế được phạm lỗi kỹ thuật như dính bóng, hai tiếng...Đây là kỹ thuật phòng thủ quan trọng của bóng chuyền , dùng để đỡ phát bóng, đỡ đập bóng và cứu bóng.

* Tác dụng:

- Đỡ được những đường bóng nhanh, mạnh, thấp, khó, khi đối phương tấn công sang.

- Phạm vi khống chế rộng, đỡ được những đường bóng ở xa thân người.

- Nâng cao thể lực, tính nhanh nhẹn, linh hoạt và lòng dũng cảm cho người tập.

- Cấu trúc kỹ thuật đơn giản, kỹ thuật dễ tiếp thu và thuận lợi hơn chuyền bóng cao tay.

Đệm bóng gồm có các kỹ thuật chính: Đệm hai tay, đệm lật sau đầu, đệm nghiêng mình, đệm một tay và lăn cứu bóng. Ngoài ra trong thi đấu còn có thể dùng thân người, dùng chân đỡ bóng.

2. Phân tích kỹ thuật đệm bóng bằng hai tay.

Đây là kỹ thuật dùng khi thực hiện hướng bóng đi và hướng bóng đến đều ở phía trước mặt và gần như cùng quỹ đạo chuyển động nhưng ngược chiều.

* Tư thế chuẩn bị: Người đứng ở tư thế trung bình thấp, chân rộng bằng hoặc hơn vai. Hai tay co tự nhiên ở hai bên sườn, thân hơi gập, mắt quan sát bóng.

Khi xác định chính xác điểm rơi của bóng và ở tầm thích hợp hai tay đưa ra đỡ bóng. Hai tay duỗi thẳng, hai bàn tay đặt chéo lên nhau và nắm lại, bàn tay nọ bọc lấy bàn tay kia, hai ngón cái song song kề sát với nhau (Hình 3).

*

(Hình 3)

* Đánh bóng: Khi bóng đến tầm ngang hông, cách thân khoảng gần một

cánh tay thì thực hiện đánh bóng. Lúc này chân đạp đất duỗi khớp gối, nâng trọng tâm thân thể và nâng tay. Hai tay được chuyển động từ dưới lên trên và dùng phần giữa cẳng tay đệm dưới bóng kết hợp với nâng tay ở mức độ cần thiết. Khi hai tay chạm bóng cũng là lúc gập cổ tay xuống dưới làm căng các nhóm cơ cẳng tay, kết hợp hóp bụng, giữ chắc bả vai với khớp khuỷu. Hai tay chắc thẳng, nắm và ép chặt vào nhau, toàn thân hơi lao về trước(Hình 4).

*

(Hình 4)

Nếu bóng đi đến với lực nhẹ vừa phải thì kết hợp với đạp chân, nâng nhanh tay để đẩy bóng đi

Nếu bóng đi đến với tốc độ nhanh, mạnh thì hạn chế nâng tay mà ghìm bóng để bóng bật đi theo ý muốn. Góc độ đường bóng đi phụ thuộc góc độ tay đệm bóng. Góc của tay đệm bóng là góc tạo bởi mặt phẳng đất và cánh tay đệm bóng. Góc độ của tay đệm bóng còn phụ thuộc góc độ của đường bóng đến. Góc độ bóng đến là góc tạo bởi mằt phẳng mặt đất và đường bóng đến.

Nếu góc độ đường bóng đến lớn thì góc độ của tay đệm bóng nhỏ. Nếu góc độ của đường bóng đến nhỏ thì góc độ của tay đệm bóng lớn. Trong tập luyện và thi đấu bóng chuyền tùy điều kiện cần vận dụng cụ thể, tùy thuộc đặc điểm góc độ đường bóng đến và độ cao của đường bóng muốn chuyền đi mà quyết định góc độ của tay đệm bóng cho phù hợp.

Kết thúc động tác: Khi bóng ra tay hai chân tiếp tục duỗi, tay nâng theo hướng bóng đi một đoạn ngắn rồi nhanh chóng trở về tư thế chuẩn bị để tiếp tục thực hiện những động tác tiếp theo.

3. Phương pháp tổ chức tập luyện.

- Bài tập 1. Người tập thực hiện TTCB để đệm bóng. GV chú ý sửa chữa cho đúng vị trí của chân và mức độ khuỵu gối, vị trí của thân, của tay và hình tay.

- Bài tập 2. Người tập thực hiện TTCB sau khi di chuyển bằng bước thường, bước chạy theo cácc hướng khác nhau

- Bài tập 3. Người tập đứng thành hàng ngang, mô phỏng các động tác đệm bóng thấp tay bằng hai tay.

- Bài tập 4. Người tập đứng thành từng đôi. Một người cầm bóng, người kia đứng ở tư thế chuẩn bị và đệm bóng, sau đó đổi vị trí cho nhau.

- Bài tập 5. Người tập tự mình tung bóng lên rồi trở về TTCB và thực hiện đệm bóng cho người cùng tập.

* Các lỗi kỹ thuật thường mắc:

Người tập không kịp di chuyển đón bóng chậm.Khi đệm bóng khong phối hợp toàn thân, tay đáh bóng quá nhanh, mạnh, không điều chỉnh được lực ở từng tình huống cụ thể.

- TTCB hai chân khuỵu gối chưa đạt đến mức cần thiết, tư thế chân chươa đúng, hai tay lệch nhau...

Chương III. Kỹ thuật phát bóng

Căn cứ vào tư thế đứng, tính chất chuyển động cũng như điểm tay tiếp xúc bóng khi phát ra ta chia kỹ thuật làm 2 loại cơ bản: Phát bóng thấp tay và cao tay

* Phát bóng thấp tay: Trước mặt, nghiêng mình.

* Phát bóng cao tay: Trước mặt, nghiêng mình, và một vài biến dạng như phát bay, phát chuẩn, nhảy phát mạnh...

Phát bóng là kỹ thuật đưa bóng vào cuộc, mặc dù các kỹ thuật có khác nhau, nhưng các động tác thực hiện chúng đều theo các quy luật chung. Trước khi thực hiện phát bóng, người tập ở tư thế ổn định, hai chân rộng bằng vai, gối hơi khuỵu.

ở tư thế chuẩn bị, cơ thể người tập tạo với trục chính diện một góc 450, vai trái ở phía trước vai phải, điều này có vai trò quan trọng để tạo đà cho đánh bóng cuối cùng. Trong phát bóng thấp tay, thân người hơi ngã về trước còn trong phát bóng cao tay thì lưng thẳng. Trọng lượng cơ thể dồn đều vào hai chân, tay trái co tự nhiên ở khớp khuỷu và đưa ra trước đỡ bóng ở ngang tầm thắt lưng sao cho khuỷu tay tách khỏi thân, bàn tay ngang mũi chân, bóng nằm trên lòng bàn tay, tay phải chuẩn bị để vung tay đánh bóng.

Tung bóng là phần động tác quan trọng để phát bóng, phần lớn phát bóng hỏng là do tung bóng sai, gây ảnh hưởng lớn tới động tác dùng sức đánh bóng sau đó. Để thực hiện tốt kỹ thuật phát bóng cần phải nắm vững các yêu cầu sau đây:

- Khi tung bóng, đường bóng phải ổn định từ dưới lên trên, phải gần như phương thẳng đứng, bàn tay khi tung bóng phải luôn song song với mặt đất.

- Khi tung bóng, bàn tay phải chuyển động nhịp nhàng từ từ tăng dần tốc độ để điều chỉnh tầm cao và đường bay của bóng.

Tay phải vung mạnh ra sau trong cùng một mặt phẳng với một động tác đánh vào bóng sau đó. Lúc này vai phải tiếp tục đưa ra sau đồng thời với động tác vung tay và người tập chuyển trọng tâm cơ thể sang chân chống sau.

Phát bóng là động tác mở đầu cho cuộc đấu và cũng mở đầu cho cuộc tấn công đối phương. Ngày nay kỹ thuật phát bóng không ngừng được hoàn thiện nâng cao thì phát bóng còn là một biện pháp tấn công giành điểm trực tiếp.

1. Phát bóng thấp tay trước mặt.

Đây là kỹ thuật khi thực hiện động tác mặt và phần trước của thể hướng vào lưới. Khi đánh bóng tay chuyển động từ sau xuống dưới và ra trước và hơi chếch lên cao, tầm đánh bóng khoảng ngang thắt lưng.

Kỹ thuật đánh bóng này đơn giản, dễ học, lực tác động vào bóng không được mạnh nên uy lực yếu, nhưng đảm bảo tỷ lệ bóng qua lưới, sang sân đối phương tốt. Được vận dụng nhiều trong thi đấu và tập luyện ở những đối tượng mới học (Hình 5).

*

(Hình 5)

* Tư thế chuẩn bị.

Người phát bóng đứng ở trong khu phát bóng, chân trái ở phía trước mũi chân hướng về lưới. Chân phải ở sau cách chân trái một bước rộng bằng vai, mũi bàn chân hơi xoay sang phải. Hai chân tạo ra chân đế vững vàng cho toàn thân.

Đầu gối hơi khuỵu, thân người hơi gập về trước. Trọng lượng cơ thể chủ yếu dồn vào chân sau, tay trái khuỷu tay co, lòng bàn tay ngửa đỡ bóng ở phía trước ngang thắt lưng. Tay phải duỗi tự nhiên ở phía sau, lòng bàn tay hướng bóng, mắt quan sát đối phương.

* Tung bóng.

Tay trái hạ thấp tầm bóng, tay phải hạ theo. Khi tay trái chuyển động từ dưới lên cao và thực hiện tung bóng (bóng lên cao khoảng 25-30 cm) kết hợp với duỗi khớp gối, thì tay phải cũng tiếp tục chuyển động ra sau, lòng bàn tay hướng xuống đất và hoàn thành động tác vung tay.

* Vung tay đánh bóng.

Xem thêm: Em hãy nêu đặc điểm chính của cách mạng tư sản anh, just a moment

Cùng lúc vung tay trái tung bóng, trọng lượng cơ thể chuyển về chân sau, hơi khuỵu gối. Tay phải duỗi thẳng tự nhiên, nhanh chóng chuyển động từ sau ra trước đánh vào phần sau, giữa, dưới tâm bóng ở tầm ngang thắt lưng. Chân sau đạp mạnh bước lên, thân người chuyển hoàn toàn sang chân trái, người hơi lao về trước để tạo lực đánh bóng mạnh hơn.

* Kết thúc.

Sau khi bóng rời tay, tay phải vươn theo bóng về phía trước lên cao. Chân phải theo đà bước lên trên để giữ thăng bằng và nhanh chóng vào sân.

2. Phát bóng cao tay trước mặt.

Đây là kỹ thuật khi phát mặt và phần trước cơ thể hướng vào lưới. Kiểu phát bóng này có độ chính xác mang tính chiến thuật cao và có uy lực tấn công lớn (Hình 6).

* Tư thế chuẩn bị: Đứng trong khu phát bóng ở tư thế cao. Chân trái ở phía trước, hai chân rộng bằng vai, mũi bàn chân trái hướng về phía trước gần như vuông góc với đường biên ngang. Chân phải ở phía sau, mũi bàn chân xoay sang phải.

Hai chân tạo ra một tiết diện chân đế vững vàng cho cơ thể, thân người hơi quay sang phải một chút, trọng lượng cơ thể dồn vào chân sau. Mặt hướng về lưới, mắt quan sát đối phương. Lòng bàn tay trái ngửa, khuỷu tay đỡ bóng ở phía trước, cách bụng khoảng một quả bóng và ngang tầm thắt lưng. Tay phải: khuỷu tay co, lòng bàn tay cao ngang bóng, hướng xuống dưới hoặc có thể úp tay lên bóng.

*

(Hình 6)

* Tung bóng: Muốn đánh bóng được chuẩn xác, khi tung bóng lên phải đảm bảo sự ổn định của đường bóng. Khi chuẩn bị tung bóng, thân người gập về trước, tay giữ bóng hạ thấp theo, chân hơi khuỵu. Ngay sau đó tay trái nâng bóng lên nhịp nhàng khi bàn tay trái ngang tầm mặt thì thực hiện tung bóng. Lúc này bóng rời tay và chuyển động lên cao theo phương thẳng đứng ở tầm cao hơn một tầm tay với khi đánh bóng. Cùng với lúc tay trái tung bóng, tay phải cũng chuyển động lên cao, ra sau chuẩn bị đánh bóng. Lòng bàn tay hướng lưới, cao hơn đầu ở phía sau, khuỷu tay co, cao ngang vai. Thân người hơi ngửa các nhóm cơ trước căng, mặt hướng theo bóng.

* Đánh bóng:

Khi bóng rơi tới tầm thích hợp, tay phải chuyển động từ sau ra trước hơi chếch lên cao để đánh bóng. Chân phải đạp đất để chuyển xoay thân người về hướng chính diện gần như hoàn toàn. Trọng lượng cơ thể dồn vào chân trước. Vai phải chuyển động về phía trước đồng thời kéo theo cánh tay, khuỷu tay, vai phải xốc cao, cuối cùng là bàn tay đánh vào bóng. Khi đánh bóng tốc độ chuyển động của tay nhanh theo hướng, hơi chếch lên cao. Đặc biệt là tốc độ gập của cổ tay tiếp xúc bóng bằng lòng bàn tay đánh vào dưới tâm bóng chủ yếu là cùi tay.

* Kết thúc:

Khi phát bóng xong, người phát bóng tiếp tục gập thân, tay vươn theo bóng rồi từ từ hạ xuống. Chân sau bước lên trở về tư thế chuẩn bị để tiếp tục thi đấu.

3. Phương pháp tổ chức tập luyện.

- Bài tập 1. Tập mô phỏng kỹ thuật phát bóng, tư thế ban đầu và cách tung bóng.

- Bài tập 2. Người tập đứng từng đôi đối diện nhau, cách nhau 8 –10m. Một người tung bóng người kia kiểm tra, tiếp theo thực hiện tung bóng làm động tác vung tay.

- Bài tập 3. Người tập đứng như bài tập trên, một người cầm bóng đứng ở tư thế chuẩn bị phát bóng, sau đó tung bóng và phát bóng về phía người cùng tập. Khi phát bóngphải tập trung chú ý động tác phối hợp các bộ phận cơ thể và tầm cao đường bóng phát.

- Bài tập 4. Người tập đứng thành từng đôi ở hai bên lưới cách lưới 5 - 6m. Một người cầm bóng đứng ở TTCB, tung bóng và phát bóng đi qua lưới để gười kia đỡ bóng. Khi đã nắm vững được kỹ thuật phát bóng thì tăng dần khoảng cách với lưới và sau đố là phát bóng từ đường biên ngang.

- Bài tập 5. Người tập đứng ở khu vực phát bóng, phát bóng qua lưới sau đó phát vào nửa bên trái hoặc bên phải.

* Các lỗi kỹ thuật thường mắc:

- TTCB không đúng ( hai chân không khuỵu ở khớp gối, thân trên ngả nhiều về trước, chân trước đặt cùng phía với tay thuận đánh bóng).

- Tung bóng không chuẩn ( sau đầu, sang bên hoặc cách xa người).

- Tay thả lỏng khi đánh vào bóng, bàn tay tiếp xúc đánh bóng không chuẩn....

Chương IV. Luật thi đấu

Điều 1: Sân thi đẤU

- Sân thi đấu hình chữ nhật và đối xứng, kích thước 18´9 mét, xung quanh là khu tự do, rộng ít nhất là 3 mét về tất cả mọi phía, chiều cao tối thiểu là 7 mét.

*
Điều 2: LƯỚI VÀ CỘT LƯỚI.

- Lưới: lưới có màu đen, dài 9.5 đến 10m, rộng 1m, mắt lưới hình vuông, mỗi cạnh 10cm. chiều cao đo ở giữa sân từ mép trên lưới, lưới nam cao 2.43m, lưới nữ cao 2.24.

- Cột lưới: đặt cách đường biên dọc 0.5 tới 1m, cao 2.55m, có thể điều chỉnh được.

Điều 3: BÓNG

- Hình tròn, làm bằng da mềm, đồng màu hoặc phối hợp các màu, chu vi 65-67cm, trọng lượng 260-280g

Điều 4: ĐỘI BÓNG

- Mỗi đội được phép đăng ký tối đa là 12 cầu thủ, trong đó có 1 cầu thủ libero, chỉ có cầu thủ đăng ký thi đấu mới phép thi đấu.

Điều 6:

- Được 1 điểm: đội đang phát bóng nếu đội đối phương phạm lỗi thì được 1 điểm và tiếp tục phát bóng.

- Đội đang phát bóng, nếu phạm lỗi thì mất quyền phát bóng và đối phương được quyền phát bóng. Đồng thời được 1 điểm, và các cầu thủ đội đó xoay vòng vị trí theo chiều kim đồng hồ.

*

- Đội thắng 1 hiệp là đội được 25 điểm trước và hơn đội kia ít nhất 2 điểm. Trường hợp hòa 24-24 thì phải đấu tiếp cho đến khi hơn nhau 2 điểm. Ví dụ, 26-24, 27-25.

- Đội thắng 1 trận là đội thắng 3 hiệp trước. Trường hợp hòa 2-2 thì đến hiệp thứ 5 chỉ đánh tới 15 điểm và đội thắng phải hơn ít nhất 2 điểm.

Điều 12:

- Thực hiện phát bóng nếu quá 8 giây sau khi có tiếng còi của trọng tài mà cầu thủ chưa thực hiện phát bóng đi hay đứng phát bóng ở ngoài khu phát bóng thì phạm lỗi, bị mất quyền phát bóng. Đối phương được điểm và quyền phát bóng.

- Thời gian hội ý và hội ý kỹ thuật tùy theo tính chất giải hay trận đấu có thể trong các hiệp từ 1 tới 4 mỗi hiệp có 2 lần hội ý kỹ thuật, mỗi lần 60 giây. Được áp dụng tự động khi đội dẫn điểm đạt tới điểm 8 và 16, mỗi hiệp mỗi đội được xin hội ý thường 1 lần.

Điều 18: NGHỈ GIỮA QUÃNG

- Trong các cuộc thi đấu chính thức của FIVB, mỗi lần nghỉ giữa các hiệp kéo dài 3 phút. Tuy nhiên, BTC có thể yêu cầu nghỉ từ 5 tới 10 phút, nhưng chỉ áp dụng cho những lần nghĩ giữa hiệp thứ 2 và thứ 3.

- Đổi sân: sau mỗi hiệp các đội đổi sân, ở hiệp quyết thắng, khi một đội được 8 điểm thì được đổi sân ngay.

Luật vận động viên tự do(Libero):

- Mỗi đội được đăng ký một vận động viên chuyên phòng thủ, trang phục libero phải khác màu với vận động viên khác. Libero được phép thay thế bất kỳ vận động viên hàng sau nào, và chỉ giữ vai trò như vận động viên hàng sau, không được phép đập bóng tấn công từ bất kỳ vị trí nào, nếu vào thời điểm trạm bóng, bóng hoàn tao cao hơn mép trên của lưới. Libero không được phép phát, chắn bóng hoặc giả chắn bóng.

- Nếu một libero chuyền bóng cao tay ở khu hàng trước hoặc phần kéo dài của khu này thì vận động viên đập bóng không được đập quả bóng cao hơn mép trên của lưới.

-Thay libero không tính là thay người, số lần thay không hạn chết, nhưng giữa 2 lần thay người phải có một pha giao bóng. Libero chỉ được thay bằng vận động viên mà anh/chị (libero đã vào thay) libero vì chấn thương đã phải thay ra vào sân thi đấu phần còn lại của trận.

KIỂM TRA VÀ ĐÁNH GIÁ

1. Kiểm tra lý thuyết.

Đối với sinh viên các hệ Cao đẳng, Đại học chủ yếu bằng hình thức vấn đáp, nội dung kiểm tra như sau:

- Tác dụng của tập luyện bóng chuyền đối với cơ thể.

- Luật và phương pháp tổ chức thi đấu ( Bóng chuyền người lớn).

2. Kiểm tra thực hành.

Kiểm tra 3 kỹ thuật cơ bản là:

- Chuyền bóng cao tay trước mặt.

- Đệm bóng cao tay trước mặt.

- Phát bóng ( Nam phát cao tay, Nữ phát bóng thấp tay)

* Phương pháp tiến hành:

Mỗi nội dung kiểm tra được phép thực hiện 3 lần, lấy số lần cao nhất (tối thiểu là 20 quả trở lên). Yêu cầu đúng kỹ thuật và khoảng cách giữa 2 người thực hiện từ 3m - 4m, đường bóng bay cao ổn định.

- Trên cơ sở căn cứ vào kết quả thực hiện kỹ thuật từng động tác và hiệu quả thực hiện để đánh giá cho điểm từng nội dung.

Tài liệu tham khảo

1. Bóng chuyền (Dùng cho sinh viên đại học TDTT ), NXB TDTT 1978.

2. Bóng chuyền bãi biển và mi ni, NXB TDTT 1993.

3. Liên đoàn bóng chuyền Việt Nam, 108 câu hỏi và trả lời luật bóng chuyền, NXB TDTT 1993.

CHƯƠNG I: SÂN BÃI DỤNG CỤĐiều 1: Sân thi đấu bóng chuyền hơi:1.1. Sân đấu hình chữ nhật, dài 12m, rộng 6m. Khu quanh sân cách ít nhất 5m không có vật cản. Khoảng không trên sân đấu đo từ mặt sân tối thiểu 5m không có vật cản.1.2. Mặt sân ngang, bằng phẳng, không có bất cứ vật gì gây chấn thương, không gồ ghề, trơn ướt.1.3. Các vạch giới hạn của sân rộng 5cm, màu sắc khác với màu mặt sân. Độ rộng của biên dọc và biên ngang thuộc phạm vi trong sân đấu.1.4. Đường giữa sân là đường nối hai điểm giữa của hai biên dọc. Trục giữa của đường giữa sân chia sân đấu thành hai phần bằng nhau dài 6m, rộng 6m.1.5. Đường hạn chế là đường nối hai biên dọc vẽ song song với trục giữa sân và cách trục giữa của đường giữa sân là 2m. Khu trước của sân tức khu 2m được giới hạn bởi đường giữa sân và đường giới hạn; Khu sau là khu nằm từ đường giới hạn 2m và biên ngang. Đường giới hạn của khu kéo dài vô hạn.1.6. Vạch phát bóng và khu phát bóng: ở hai đầu của sân, mỗi bên vẽ hai vạch phát bóng, mỗi vạch dài 20cm cách biên dọc 25cm. Vạch thứ nhất vẽ trên đường kéo dài của biên dọc bên phải, còn vạch kia vẽ trên đường kéo dài của biên dọc bên trái. Khu phát bóng được kéo dài vô hạn ra phía sau.Điều 2: Lưới và cột lưới2.1. Lưới dài 7m, rộng 1m căng thẳng góc trên không, đúng với trục giữa sân. Lưới có màu thẫm, mắt lưới 10 x 10cm. Viền mép trên của lưới là hai lần vải bạt, rộng 5cm, có một dây cáp mềm luồn trong để kéo căng lưới. Mép dưới lưới dùng loại dây mềm luồn để kéo căng cố định với hai cột lưới.2.2. Cọc giới hạn (ăngten): Là hai cọc dài 1,8m, đường kính 1cm, làm bằng chất dẻo chắc, sơn kẻ sọc từng đoạn 10cm màu đỏ, trắng. Cột giới hạn đặt ở hai đầu lưới thẳng với mép ngoài biên dọc thò cao hơn lưới 80cm. Cột giới hạn là một phần của lưới dùng làm mốc giới hạn hai bên lưới.2.3. Chiều cao của lưới nam: 2m20; chiều cao của lưới nữ: 2m đo ở giữa sân và hai đầu lưới phải ngang bằng nhau. Hai đầu lưới không được cao hơn giữa lưới 2m. Có thể dùng chiều cao 2m với nam và 1m80 cho nữ (nếu đối tượng thi đấu là nam trên 65 tuổi và nữ trên 60 tuổi).2.4. Hai cột lưới: Mỗi cột cao 2m25, tròn, nhẵn, có thể điều chỉnh được độ cao khi căng lưới. Cột lưới được đặt ở trên đường giữa sân kéo dài cách biên dọc 0,5m (1,00m).

Điều 3:Quả bóng chuyền hơi:3.1. Bóng hình cầu tròn được chế tạo bằng nhựa mềm3.2. Màu sắc: màu vàng đồng nhất.3.3. Chu vi: 80 – 83cm.3.4. Khối lượng: 100 – 120gr3.5. Độ căng của bóng được tính bằng độ nảy của nó khi ta nâng quả bóng lên cao tính từ mặt sân đến đáy quả bóng 1m, sau khi thả rơi tự do, bóng chạm đất nẩy lên tính từ mặt sân lên tới đỉnh quả bóng 40cm là vừa.

Với môn bóng chuyền hơi , quả bóng chuyền là dụng cụ quan trọng nhất . Nếu nó không đảm bảo bảo trọng lượng , kích thước, độ lảy cũng như độ đàn hồi thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng chuyên môn của trận đấu. Mọi luận thi đấu chuẩn đề ra cũng không còn chính xác trong điều kiện quả bóng chuyền hơi không đảm bảo chất lượng.

*
*
*

*
Bóng chuyền hơi là môn thể thao phong trào dành cho các chị em phụ nữ

CHƯƠNG II: ĐỘI BÓNG VÀ VẬN ĐỘNG VIÊNĐiều 4: Đội thi đấu4.1. Mỗi đội có nhiều nhất là 10 vận động viên, 1 huấn luyện viên (có thể kiêm vận động viên), 1 lãnh đội. Số người trên sân là 5.4.2. Chỉ những vận động viên đã có trong danh sách đăng ký dự giải và trong biên bản mới được thi đấu. Đội trưởng trên sân phải đeo băng đội trưởng rõ ràng ở ngực áo, hoặc tay áo.4.3. Khi đội trưởng trên sân thay ra, huấn luyện viên hoặc đội trưởng chỉ định vận động viên khác đang thi đấu trên sân làm đội trưởng.Điều 5: Trang phục thi đấu5.1. Trang phục phải thống nhất, cùng màu sắc và sạch sẽ.5.2. Không đi giầy có đế cứng thi đấu. Phải là giấy thể thao, mềm.5.3. Số áo của vận động viên thi đấu in từ 1 đến 10. Số áo trước ngực phải cao ít nhất 10cm. Số áo sau lưng phải cao ít nhất 15cm. Nét chữ rộng 2cm.Điều 6: Huấn luyện viên và vận động viên6.1. Huấn luyện viên và vận động viên phải hiểu và thực hiện đúng luật thi đấu, tuân thủ quyết định của trọng tài, đúng đạo đức, tác phong, tinh thần cao thượng. Nếu có thắc mắc chỉ đội trưởng trên sân là người duy nhất được quyền yêu cầu trọng tài giải thích; huấn luyện viên không có quyền thắc mắc, khiếu nại.6.2. Huấn luyện viên và vận động viên phải tôn trọng trọng tài và đối phương, không được có bất cứ hành vi nào ảnh hưởng tới quyết định của trọng tài; không được có hành động hoặc biểu hiện nào kéo dài hoặc cố ý trì hoãn trận đấu.6.3. Trước trận đấu, huấn luyện viên phải đăng ký tên, số áo vận động viên vào biên bản thi đấu và ký tên. Trước mỗi hiệp đấu phải nộp phiếu báo vị trí vận động viên trên sân cho trọng tài thứ hai.6.4. Khi kết thúc trận đấu, hai đội trưởng phải ký biên bản xác nhận kết quả thi đấu.

CHƯƠNG III: TIẾN HÀNH THI ĐẤUĐiều 7: Chọn sân, đổi sân, tạm dừng7.1. Trước khi đấu hiệp thứ nhất và hiệp thứ ba (hiệp quyết thắng) trọng tài cho đội trưởng hai đội rút thăm chọn sâu, chọn quyền phát bóng. Có 5 phút khởi động trước khi bắt đầu đấu hiệp thứ nhất cho một đội; Nếu hai đội khởi động chung sẽ là 10 phút.7.2. Thời gian nghỉ giữa hiệp 1 và 2 là 3 phút. Thời gian nghỉ giữa hiệp 2 và 3 là 5 phút. Hết hiệp thứ nhất hai đội đổi sân. Trong thời gian nghỉ giữa hai hiệp các vận động viên được ra khỏi sân để nghe huấn luyện viên chỉ đạo.7.3. Bất kì đội nào được 8 điểm trước ở hiệp quyết thắng thì hai đội đổi sân nhưng không được nghỉ và nghe chỉ đạo. Giữ nguyên vị trí sau khi đổi sân tiếp tục thi đấu, đội đang phát bóng tiếp tục phát.7.4. Nếu có vận động viên trên sân chấn thương, trọng tài thứ nhất phải thổi còi dừng trận đấu, cho thay người. Nếu không thể thay người đúng luật thì cho phép thay người “đặc biệt” hoặc cho vận động viên bị thương nghỉ 3 phút để hồi phục. Nếu vận động viên này không thể tiếp tục thi đấu thì đội ấy thua hiệp đó nhưng giữ nguyên tỉ số điểm và hiệp.7.5. Nếu đang đấu mất điện, mưa bão phải ngừng đấu mà trong vòng hai giờ sau đó vẫn đấu tiếp trên sân đang đấu thì giữ nguyên tỉ số điểm của hai đội và đội hình cùng vị trí như trước lúc ngừng thi đấu. Nếu phải đấu lại trên sân khách thì giữ nguyên tỉ sốđiểm của các hiệp đã đấu, bỏ số điểm hiệp đang đấu dở để đấu tiếp hiệp mới với đội hình và vị trí trên sân như đã đăng ký ở hiệp phải tạm ngừng. Nếu quá hai giờ mới tiếp tục đấu được thì cho đấu lại từ đầu.Điều 8: Vị trí trên sân của vận động viên8.1. Đội hình thi đấu của hai đội là hàng trước ba người, hàng sau hai người. Hàng trước: Vị trí bên phải là số 2, bên trái là số 4, ở giữa là số 3. Hàng sau: bênphải là số 1, bên trái là số 5. Trước khi bắt đầu mỗi hiệp đấu, vận động viên trên sân phải đứng đúng đội hình ghi trong phiếu báo vị trí và giữ nguyên thứ tự này trong suốt hiệp đấu.8.2. Sau phát bóng, vận động viên có thể đến bất cứ vị trí nào trên sân mà không bị vi phạm luật theo điều8.1. Tuy nhiên, vận động viên hàng sau không được lên chắn bóng.8.3. Bắt đầu hiệp, mới được thay đổi đội hình thi đấu. Được phép đưa các vận động viên đăng ký trong biên bản vào đội hình thi đấu mới.Điều 9: Hội ý9.1. Mỗi hiệp mỗi đội được xin phép hai lần hội ý. Thời gian mỗi lần hội ý là 1 phút. Chỉ lúc bóng chết, huấn luyện viên và đội trưởng trên sân mới được xin trọng tài cho phép hội ý. Chỉ được hội ý sau khi trọng tài cho phép. Khi trọng tài thứ nhất thổi còi, trận đấu phải tiếp tục ngay.9.2. Trọng tài không cho phép một đội xin hội ý 3 lần trong một hiệp đấu. Nếu xảy ra thì trọng tài từ chối và cảnh cáo. Nếu cùng một hiệp lại xảy ra trường hợp trên thì phạt đội phạm luật mất quyền phát bóng nếu đang phát và đối phương được điểm. Nếu đối phương đang phát bóng thì đối phương được 1 điểm và tiếp tục quay vòng phát bóng.9.3. Khi hội ý, vận động viên ra khỏi sân để nghe huấn luyện viên chỉ đạo.Điều 10: Thay người10.1. Mỗi đội mỗi hiệp được thay nhiều nhất 5 lần người. Theo quy định, mỗi người vào sân thay cho một người ra sân được tính là 1 lần thay người (vào lúc bóng chết). Huấn luyện viên hoặc đội trưởng trên sân được đề nghị trọng tài cho phép thay người đồng thời nói rõ số áo của người thay, khi thư ký ghi vào biên bản xong trận đấu mới tiếp tục.10.2. Huấn luyện viên không được chỉ đạo khi thay người. Một đội muốn xin thay người mà chưa qua một pha đấu thì không được thay người tiếp.10.3. Một vận động viên đăng ký trong đội hình thi đấu của hiệp, tức vận động viên chính thức, chỉ được thay ra sân một lần. Nếu vận động viên chính thức đã ra, thay lại vào sân đấu tiếp trong cùng hiệp đó thì chỉ thay đúng vị trí của vận động viên bị thay ra.10.4. Mỗi hiệp, vận động viên dự bị chỉ được thay vào sân một lần cho bất kỳ vận động viên chính thức nào thi đấu trên sân. Trong cùng một hiệp, vận động viên dự bị này chỉ được hay ra đúng vị trí vận động viên chính thức đã thay.10.5. Khi trọng tài cho phép thay người, vận động viên thay vào phải sẵn sàng vào sân ở khu 2m. Nếu người thay không sẵn sàng vào sân thì đội đó bị phạt tạm dừng một lần hội ý.Điều 11: Cách tính kết quả thi đấu11.1. Được điểm: Đội đang phát bóng hay đỡ phát bóng thắng 1 pha bóng đều được 1 điểm.11.2. Thắng 1 hiệp: Đội nào được 25 điểm và hơn đối phương 2 điểm thì thắng hiệp đó. Ở hiệp quyết thắng, đội nào được 15 điểm và hơn đối phương 2 điểm thì mới thắng ở hiệp quyết thắng.11.3. Thắng 1 trận: Đội nào thắng 2 hiệp trước thì thắng trận.11.4. Đội nào đến sân không đúng giờ đấu mà không có lý do chính đáng thì coi như bỏ cuộc, đội kia thắng trận với tỉ số 2:0 và tỉ số mỗi hiệp là 25:0.

Bóng chuyền hơi đang là một trong những môn thể thao được ưa chuộng của mọi lứa tuổi

CHƯƠNG IV: ĐỘNG TÁC VÀ PHẠM LỖIĐiều 12: Phát bóng12.1. Khi phát bóng, phải để bóng rời tay, rõ ràng rồi mới dùng bàn tay hoặc một cánh tay đánh bóng trực tiếp qua lưới sang sân đối phương giữa hai cọc giới hạn. Khi bóng qua sân bị chạm lưới không phạm luật.12.2. Đội rút thăm được quyền phát bóng ở hiệp thứ nhất và hiệp quyết thắng, do vận động viên ở khu số 1 phát bóng. Đội phát bóng đầu tiên ở hiệp thứ 2 là đội không được phát bóng ở hiệp thứ nhất.12.3. Đội phát bóng thắng một pha bóng được 1 điểm. Đội đỡ phát bóng được quyền phát bóng thì vận động viên trên sân phải xoay một vòng theo chiều kim đồng hồ. Vận động viên mới chuyển đến khu số 1 thực hiện lần phát bóng này. Mỗi lần phát bóng người phát chỉ được phát một lần. Lần phát tiếp theo phải do cầu thủ theo thứ tự xoay vòng xuống thực hiện. Xoay vòng phát bóng không đúng thứ tự phát bóng. Đội sai thứ tự phát bóng phải xoay lại vòng cho đúng vị trí và mất quyền phát bóng, đối phương được điểm. Phải xoá toàn bộ số điểm đội đã giành được do sai thứ tự phát bóng mà có được.12.4. Vận động viên phát bóng phải đứng trong khu phát bóng. Người phát bóng được di chuyển tự do hoặc nhảy phát trong khi phát nhưng lúc tay chạm bóng chân không được dẫm vạch hoặc ở ngoài khu phát. Đánh bóng xong được phép rơi vào trong sân thi đấu.12.5. Sau hiệu còi của trọng tài thứ nhất, người phát bóng phát bóng đi trong vòng 8 giây. Người phát bóng tung nhưng không đánh bóng và trong khi bóng rơi chạm đất không chạm người phát bóng thì trọng tài thứ nhất cho phát bóng lại, nhưng trong vòng 8 giây của lần phát.12.6. Đội phát không được dùng bất kỳ hành động nào che chắn không cho đối phương quan sát người phát và đường bay của bóng.12.7. Bóng phát sang, đội dỡ phát không được đập bóng ngay mà phải thông qua ít nhất 1 lần đội đỡ phát đã chạm bóng.Điều 13: Đánh bóng13.1. Một đội được phép chạm bóng 3 lần để đưa bóng qua lưới sang sân đối phương. Một người không được chạm bóng liền 2 lần.13.2. Được phép dùng bất kỳ bộ phận nào của cơ thể để chạm bóng. Bóng có thể chạm các phần khác nhau của cơ thể cùng một lúc nhưng phải cùng một động tác, cùng một lần dùng sức.13.3. Được phép dùng các động tác khác nhau đánh bóng. Giữ bóng hoặc hoãn xung nhưng bóng đứng lâu trên người mới đánh bóng đi là phạm lỗi dính bóng.13.4. Hai, ba người của một đội cùng đánh chạm bóng chỉ tính một lần chạm bóng. Người đã chạm bóng không được đánh bóng tiếp ngay.13.5. Sau khi hai người của hai đội cùng chạm bóng trên lưới, bóng rơi sang sân nào thì đội đó được phép đánh chạm bóng tiếp 3 lần nữa; Nếu bóng rơi ngoài sân bên nào thì đội bên kia đánh bóng ra ngoài sân.13.6. Hai người cùng giữ bóng lâu trên lưới tính cùng phạm lỗi, cho phép đánh lại pha bóng.13.7. Nếu một đội chạm bóng 4 lần liền (trừ chắn bóng) phạm lỗi 4 lần chạm bóng.13.8. Hai tư thế đánh bóng được coi là phạm lỗi:a. Đứng trên mặt sân dùng hai tay đập bóng sang (vồ bóng).b. Đệm bóng 2 tay không thành một khối, mỗi tay chuyển động 1 ngả.Điều 14: Bóng bay sang sân đối phương14.1. Bóng qua sân đối phương phải trong không gian bóng qua mặt phẳng thẳng đứng của lưới có giới hạn hai bên là hai cọc ăng tên kể cả đường kéo dài của nó.14.2. Bóng khi qua sân đối phương được chạm lưới. Vận động viên đánh bóng vào lưới mà bóng chưa rơi chạm đất thì vận động viên khác được phép đánh bóng tiếp.14.3. Bóng chạm ăngten, vào phần lưới ăngten hoặc chạm dây căng lưới cũng như khán giả hoặc bất kỳ vật gì đều là ngoài sân.14.4. Khi toàn bộ đã ngoài mặt phẳng thẳng đứng của lưới và dưới lưới là bóng ngoài được phép đánh bóng trở lại nhưng bóng không vượt qua mặt phẳng thẳng đứng của lưới và phần kéo dài của cọc giới hạn.Điều 15: Qua đường giữa sân và chạm lưới15.1. Vượt đường giữa sân là lúc bất kỳ bộ phần nào của cơ thể sang và chạm sân bên kia khi đang thi đấu là phạm lỗi qua đường giữa sân. Trừ trường hợp 1 bàn tay, 2 bàn tay, 1 bàn chân, 2 bàn chân chưa sang toàn bộ.15.2. Khi đang thi đấu bất kỳ phần nào cơ thể vận động viên chạm lưới trong sân hoặc chạm lưới ngoài sân mà làm ảnh hưởng thi đấu là phạm lỗi chạm lưới. Tuy nhiên, lúc đập bóng và chắn bóng sau khi thực hiện xong động tác có chạm lưới nhẹ mà không gây ảnh hưởng đến đối phương thì cho qua, không bắt lỗi chạm lưới.15.3. Bóng đối phương đánh vào lưới chạm vận động viên đội bạn thì không tính lỗi đội bạn chạm lưới.Điều 16: Đánh tấn công16.1. Đánh bóng trực tiếp sang sân đối phương là đánh bóng tấn công (đập bóng, bỏ nhỏ, chuyền bóng, đệm bóng).16.2. Bất cứ một vận động viên nào ở hàng sau đều có thể đánh bóng tấn công bất kỳ quả bóng ở độ cao nào nhưng khi bật nhảy đập bóng chân không được dẫm hoặc vượt vạch 2m, nếu không bị phạm lỗi.16.3. Vận động viên ở khu 2m không được đập quả bóng cao hơn mép trên của lưới mà được chuyền bóng sang sân đối phương có độ vồng lên hoặc ngang bằng lúc qua lưới.Điều 17: Chắn bóng17.1. Ba vận động viên hàng trước được chắn bóng đơn hoặc chắn tập thể khi đối phương tấn công. Bóng có thể chạm nhanh hoặc chạm liên tiếp một hoặc vài lần người chắn bóng. Người chắn bóng xong, được đánh bóng tiếp.17.2. Khi chắn bóng, bóng có thể chạm tay hoặc bất cứ bộ phận nào của thân thể.17.3. Vận động viên chắn bóng được đưa bàn tay hoặc cánh tay qua lưới chắn bóng.17.4. Không tính chắn bóng là một lần chạm bóng, sau chắn bóng được phép chạm đánh bóng ba lần nữa.17.5. Hai vận động viên hàng sau không được lên hàng trước chắn bóng. Nếu tham gia chắn và có hành động như chắn bóng là phạm lỗi.17.6. Không được phép chắn quả phát bóng của đối phương cũng như chắn quả bóng từ đối phương sang khi bóng đang ở khu 2m. Chỉ được chắn những quả đánh tấn công sau vạch 2m.

CHƯƠNG V: CÔNG TÁC TRỌNG TÀIĐiều 18: Thành phần tổ trọng tài18.1. Trọng tài là người thi hành luật trong trận đấu. Trọng tài phải nghiêm chỉnh, cẩn thận, công bằng, chuẩn xác. Trọng tài phải tinh thông luật và vận dụng thành thạo. Trọng tài phải phối hợp chặt chẽ, tôn trọng lẫn nhau, đoàn kết, thân ái.18.2. Tổ trọng tài điều khiển trận đấu gồm:– Một trọng tài thứ nhất– Một trọng tài thứ hai– Hai trọng tài biên– Hai thư ký (thi đấu toàn quốc, toàn ngành).Thi đấu ở cấp cơ sở, tuỳ tình hình cụ thể để giảm số trọng tài một cách hợp lý.18.3. Trọng tài thứ nhất thổi còi ra lệnh trận đấu bắt đầu. Khi trọng tài thứ nhất và trọng tài thứ hai thấy phạm lỗi cũng như tính chất lỗi, phải thổi còi dừng trận đấu. Dùng hiệu tay chỉ rõ tính chất lỗi; người phạm lỗi và đội được phát bóng.Điều 19: Nhiệm vụ và quyền hạn của trọng tài thứ nhất19.1. Trọng tài thứ nhất là người tổ chức và thi hành luật chính của một trận đấu bóng chuyền hơi, có quyền quyết định mọi việc kể cả giải thích những vấn đề luật chưa rõ. Quyết định của trọng tài thứ nhất là quyết định cuối cùng.19.2. Khi làm nhiệm vụ, trọng tài thứ nhất đứng trên ghế trọng tài đặt cách cột lưới 1m với mức mắt nhìn ngang ở độ cao 40cm trên mặt lưới.19.3. Trước trận đấu, trọng tài thứ nhất kiểm tra toàn bộ sân bãi dụng cụ; Cho rút thăm chọn sân hoặc quyền phát bóng. Nắm vững việc khởi động của hai đội.19.4. Trọng tài thứ nhất thực hiện bắt lỗi theo luật, điều khiển trận đấu. Nếu vận động viên thắc mắc thì giải thích rõ khi đội trưởng trên sân yêu cầu.19.5. Trọng tài thứ nhất thực hiện bắt lỗi theo luật, điều khiển trận đấu. Nếu vận động viên thắc mắc thì giải thích rõ khi đội trưởng trên sân yêu cầu.Điều 20: Nhiệm vụ và quyền hạn của trọng tài thứ hai20.1. Trọng tài thứ hai giúp cho trọng tài thứ nhất. Khi thực hiện nhiệm vụ, trọng tài thứ hai phải đứng đối diện với trọng tài thứ nhất, được di chuyển cách cột lưới với đường kính 1m và ngoài hai khu giới hạn kể cả vùng kéo dài.20.2. Trọng tài thứ hai phải nắm vững bóng thi đấu, kiểm tra vị trí theo phiếu báo vị trí của hai đội, nắm vững số lần và thời gian tạm dừng hội ý và thay người, dùng hiệu tay chỉ lỗi ngoài quyền hạn của mình. Khi phát hiện có hành động sai trái phải báo cáo ngay cho trọng tài thứ nhất biết.20.3. Kiểm tra vị trí đỡ, phát bóng của vận động viên. Theo dõi bóng qua lại cọc giới hạn có hợp lệ, bóng có chạm cọc giới hạn hoặc vật ngoài sân không. Theo dõi lỗi chạm lưới và qua vạch giữa sân của vận động viên. Phát hiện có chấn thương thì thổi còi và ra hiệu tay cho dừng trận đấu.Điều 21: Nhiệm vụ và quyền hạn của thư ký21.1. Khi làm nhiệm vụ, thư ký ngồi ở bàn thư ký đối diện với trọng tài thứ nhất. Trước trận đấu, mời huấn luyện viên hai đội đăng ký danh sách số áo vận động viên vào biên bản rồi ký nhận. Nhận phiếu báo vị trí, ghi đội hình hai đội vào biên bản rồi giao phiếu cho trọng tài thứ hai. Ghi chép các mục quy định của biên bản theo quá trình trận đấu diễn ra. Kết thúc trận đấu mời trọng tài và hai đội trưởng hai đội ký biên bản.21.2. Thư ký thứ hai ngoài giúp thư ký thứ nhất còn phụ trách phát thanh theo quyết định của trọng tài thứ nhất, tuyên bố tỉ số, tạm dừng hội ý, thay người…21.3. Khi phát bóng, thư ký thứ hai phải theo dõi số áo người phát bóng và kịp thời đối chiếu với thư ký thứ nhất.Điều 22: Nhiệm vụ giám biên22.1. Hai giám biên, mỗi người đứng ở vị trí cách hai góc đối của sân đấu 2m. Mỗi người theo dõi một biên dọc và một biên ngang.22.2. Giám biên theo dỏi bóng trong, ngoài sân, bóng chạm tay ra ngoài, lỗi phát bóng, bóng ngoài ăngten vào sân, bóng chạm ăngten, bóng chạm vật cản và dùng hiệu cờ chỉ rõ lỗi.Điều 23: Hiệu tay quy định của trọng tài23.1. Trong trận đấu, trọng tài phải dùng hiệu tay quy định (như hình vẽ) để chỉ rõ tính chất vi phạm hoặc ngưng trận đấu. Dùng một tay làm hiệu chỉ rõ đội phạm lỗi hoặc đội có nhu cầu. Xin tạm dừng; thay người. Tiếp đó, chỉ rõ người phạm lỗi hoặc đội có đề nghị. Cuối cùng, chỉ rõ đội được phát bóng.23.2. Giám biên dùng hiệu cờ quy định chỉ rõ tính chất lỗi phạm và giữ hiệu cờ một thời gian ngắn.

PHẦN HAIPHƯƠNG PHÁP TRỌNG TÀI

CHƯƠNG I: PHẨM CHẤT CẦN CÓ CỦA MỘT TRỌNG TÀI BÓNG CHUYỀN HƠIThi đấu bóng chuyền hơi giúp hứng thú tham gia hoạt động TDTT, thúc đẩy sự phát triển phong trào bóng chuyền hơi. Trong thi đấu, khi trọng tài thổi hiệu còi có quyết định đội được điểm và đội mất quyền phát bóng. Trọng tài không chỉ quyết định thắng thua một trận đấu mà còn có tác dụng nâng cao trình độ kỹ chiến thuật của vận động viên và bồi dưỡng, giáo dục tác phong của người chơi. Phẩm chất của trọng tài là một đặc trưng tâm lý cá nhân biểu hiện chính ở sự nhanh nhẹn, hoạt bát. Phẩm chất của trọng tài bóng chuyền hơi là:– Lòng yêu nghề, có tinh thần vững vàng, không vì danh lợi, góp phần phát triển sâu rộng môn bóng chuyền hơi, giúp người cao tuổi khoẻ mạnh, vui tươi, hanh phúc.– Tinh thần trách nhiệm với công việc, thực thi luật công minh, thực sự cầu thị, khiêm tốn. Các trọng tài phối hợp chặt chẽ, tôn trọng và giúp đỡ nhau loại bỏ mọi sự nhiễu loạn để đảm bảo sự công bằng. Phẩm chất của trọng tài thể hiện nhất cử nhất động trong bắt lỗi, thổi còi, hiệu tay và lời nói. Mọi cử chỉ của trọng tài phải lịch sự, chững chạc, rõ ràng, quần áo sạch sẽ hợp vệ sinh.– Phải hiểu và thạo luật. Phải hiểu kỹ tinh thần luật, liên hệ lý luận với thực tế một cách nhuần nhuyễn. Nghiên cứu nắm vững sự phát triển của luật trước đây, hiện tại và tương lai. Chấp hành nghiêm chỉnh sự phân công và quyền hạn, nhiệm vụ để từ đó nắm vững phương pháp làm việc.– Công tác trọng tài phải thực tiễn để tích luỹ kinh nghiệm; để biết nguyên nhân của bắt sai, bỏ sót lỗi. Có thế mới nâng cao trình độ khi làm trọng tài.– Phải tự tham gia môn thể thao bóng chuyền hơi để biết kỹ chiến thuậ, tự thể nghiệm từng yếu lĩnh, để khi làm trọng tài có thái độ rõ ràng trong việc động viên điểm gì và hạn chế điểm gì.– Khi làm trọng tài cần phải có phản ứng nhanh, thị trường rộng, tiếng còi mạch lạc, không bắt bù, cũng không bắt ép. Âm lượng còi phải hợp với nhịp trận đấu (mạnh, nhẹ, dài, ngắn, đúp) để toàn bộ trận đấu diễn ra dưới sự chỉ huy của tiếng còi.– Trọng tài phải tập luyện TDTT thường xuyên vì trọng tài có thể lực tốt thì trong quá trình điều hành mới sáng suốt, tỉnh táo, mới chuẩn xác và công bằng được.

CHƯƠNG II: THỨ TỰ LÀM VIỆC KHI TỔ CHỨC THI ĐẤU BÓNG CHUYỀN HƠI CỦA TRỌNG TÀI2.1 Công tác chuẩn bị trước trận đấuCông tác chuẩn bị trước trận đấu là khâu quan trọng để tổ chức tốt một trận đấu. Trọng tài thứ nhất triệu tập các trọng tài để thống nhất nhận thức tư tưởng, phân công nhiệm vụ để khi thực thi nhiệm vụ được chặt chẽ, thống nhất. Công tác chuẩn bị có các mặt sau:a. Trước tiên phải nắm vững tính chất, mục đi đích của thi đấu, phân tích tình hình trận đấu để khi làm trọng tài nghiêm túc, chuẩn xác. Quán triệt tinh thần mục đích chính người cao tuổi tham gia thi đấu bóng chuyền hơi là vui khoẻ. Nên thống nhất đônvj viên và hạn chế những gì.b. Phải hiểu kỹ hơn luật thi đấu, nhất là luật chính. Phối hợp khi bắt lỗi để có quyết định rõ ràng. Đồng thời, nêu các yêu cầu bắt lỗi theo đặc điểm của mỗi trọng tài. Dự kiến tình hình có thể xảy ra trên sân để xác định biện pháp xử lý, có dự kiến trước.c. Chuẩn bị tốt dụng cụ cần thiết: bóng, ăngten, bảng ghi điểm, bảng vị trí, còi, bút, đồng hồ, cờ… giám biên, thước đo lưới và cả quần áo, giày dép, bàn thư ký, micro…2.2. Trình tự làm việc của trọng tài trên sânTrước trận đấu 30 phút, trọng tài phải có mặt tại sân. Trọng tài thứ nhất chịu trách nhiệm hội ý tổ trọng tài, chỉ rõ trọng điểm công việc, phân công cụ thể để tiến hành.a. Trước khi trận đấu bắt đầua.1. Trọng tài thứ nhất– Gặp người phụ trách sân để kiểm tra dụng cụ như lưới, cột lưới, ăngten, bàn thư ký, ghế trọng tài, ghế ngồi của hai đội có đúng luật hay không.– Kiểm tra trọng lượng và chu vi bóng thi đấu, sau đó giao trọng tài thứ hai giữ (không dùng khởi động).– Trước giờ đấu 15 phút, mời đội trưởng hai đội đến chọn sân và chọn quyền phát bóng, nói rõ nghi thức ra vào sân, thời gian khởi động. Cách khởi động do hai đội trưởng thống nhất thực hiện.– Báo thư ký kết quả chọn sân và đội phát bóng trước.– Kiểm tra huấn luyện viên, đội trưởng đã ký biên bản chưa.– Trước giờ thi đấu 10 phút, mời trọng tài và vận động viên tập trung làm nghi thức vào sân. Sau khi vào sân, thổi còi tuyên bố bắt đầu khởi động chính thức và nắm vững thời gian khởi động.– Khi sắp kết thúc khởi động, mời trọng tài thứ hai, giám biê

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

x

Welcome Back!

Login to your account below

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.